Chào mừng quý vị đến với website của trường THPT Tĩnh Túc huyện Nguyên Bình - Cao Bằng

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

CHÀO MỪNG NGÀY 20-11

Gốc > Văn Hóa và con người >

Ngôi làng những vị tướng

Ngôi làng những vị tướng
 
Nằm ngay ở đầu một dòng sông lớn, sát biên giới Việt Trung có một ngôi làng đặc biệt, ngôi làng nhỏ nhưng đã sinh ra nhiều vị tướng tài cho Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng góp phần vào công cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Những vị tướng được phong hàm và cả những vị tướng không phong hàm đã sinh ra, lớn lên rồi đi làm cách mạng từ ngôi làng nhỏ bé này. 
 
 

Bản Nà Nghiềng

 

 

NHỮNG VỊ TƯỚNG ĐẦU TIÊN

Đó là bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng từ xưa đến nay luôn có truyền thống kiên cường, không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo lực, luôn nuôi dưỡng những đứa con của làng trở thành những vị tướng tài, những con đại bàng tung bay trong bão tố cách mạng.

 

Vị tướng đầu tiên tôi muốn kể là thiếu tướng Lê Quảng Ba. Thiếu tướng Lê Quảng Ba tên thật là Đàm Văn Mông, sinh ngày 21/4/1915, tham gia cách mạng từ năm khi 15 tuổi (năm 1930). Tháng 3/1932 được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1940, lần đầu tiên được gặp lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc ở Tịnh Tây (Trung Quốc), Lê Quảng Ba đã thực hiện xuất sắc kế sách của Người, đưa 40 thanh niên Cao Bằng đang lánh nạn ở Tịnh Tây, nương nhờ tướng Quốc dân Đảng Trương Bội Công, về làng Nặm Quang dự lớp huấn luyện cách mạng do Bác Hồ và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên... trực tiếp giảng dạy. Kết thúc khoá huấn luyện 40 học viên về nước hoạt động cách mạng được ví như 40 cánh chim đại bàng, sải cánh trong giông bão, lập nhiều chiến công hiển hách. Bác Hồ về nước, Lê Quảng Ba được giao nhiệm vụ bảo vệ và đưa đường từ Nặm Quang về Pác Bó, chạm chân đất mẹ tại cột mốc 108 ngày 28/01/1941. Thiêng liêng, xúc động dâng trào:


Bác đã về đây tổ quốc ơi

Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy chân không nghỉ
Mà đến bây giờ, mới tới nơi.

                        (Tố Hữu)

 

Trong thời gian Bác Hồ ở Pác Bó xây dựng căn cứ địa cách mạng (1941 - 1645) Lê Quảng Ba là người cộng sự thân cận nhất và cụm từ "là người đầu tiên" gắn với Lê Quảng Ba trong nhiều mốc lịch sử quan trọng. Ông là một trong số rất ít cán bộ quân sự đầu tiên của Đảng với việc tham gia và được cử làm đội trưởng đội du kích Pác Bó (tháng 11/1941), một trong những lực lượng chính để xây dựng lực lượng vũ trang sau này. Cuối năm 1944 ông là người đầu tiên cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh lên Nà Sác gặp và nhận chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ông đã trực tiếp tham gia xây dựng nên đội quân đầu tiên này với cương vị Trưởng ban quân sự liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng.

 

Sau ngày cách mạng thành công (Tháng 8/1945) mới 30 tuổi, Lê Quảng Ba được Đảng và Bác Hồ tin tưởng giao nhiều trọng trách và ông đã hoàn thành xuất sắc. Lê Quảng Ba đảm nhiệm đặc phái viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đặc phái viên của tướng Lư Hán giải quyết vấn đề Hoa Kiều trong thời gian quân đội Tưởng Giới Thạch "Hoa quân nhập Việt". Sau đó ông được cử chỉ huy nhiều chiến dịch quân sự đặc biệt: Mặt trận Đông Bắc Duyên hải; Mặt trận Đông Bắc 2; đặc biệt là được cử làm tư lệnh trưởng bộ đội khu Thập vạn đại sơn, chỉ huy bộ đội Việt Nam chiến đấu trên đất Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi cho đại quân của giải phóng quân nhân dân Trung Hoa giải phóng miền đất phía Nam Trung Quốc. Sau thắng lợi chiến dịch Thập vạn đại sơn, Lê Quảng Ba được cử làm Tư lệnh quân khu Việt Bắc.

 

Đồng chí Lê Quảng Ba là người có nhiều đóng góp xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, ông là Tư lệnh đầu tiên của một trong bốn đại đoàn quân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam - Đại đoàn 316, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các chiến dịch giải phóng Tây Bắc, chiến thắng Điện Biên Phủ... Ông là người đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm uỷ ban dân tộc của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà...

 

Đồng chí Lê Quảng Ba - Đàm Văn Mông là người có công lớn, nếu viết theo lối sử xưa thì Thiếu tướng Lê Quảng Ba là một trong những vị khai quốc công thần của cách mạng Việt Nam. Còn viết theo lối sử ngày nay thì Lê Quảng Ba là người học trò xuất sắc, là người cộng sự gần gũi và tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, suốt cuộc đời hiến dâng cho Đảng, cho dân, cho nước, lập nhiều chiến công xuất sắc. Lịch sử cần xác lập lại vị trí quan trọng và những đóng góp lớn lao của ông. 

 

(Câu chuyện ngoài lề: Các nhà thơ theo trường phái Bút tre đã viết về Lê Quảng Ba thế này:

 

Hoan hô anh Lê Quảng Ba

Trước là thổ phỉ, sau ra hàng mình.

 

Lê Quảng Ba là người chỉ huy dẹp phỉ suốt dọc biên giới Việt - Trung, giữ yên bản làng, bờ cõi, lại được gán cho là thổ phỉ! Cần phải "cải chính". Nhưng có lẽ chẳng cần vì ai cũng hiểu đấy là cái kiểu tếu táo của những "nhà thơ" tự nhận là Bút Tre!)

 

Một vị tướng họ Đàm khác ở Nà Nghiềng có cấp hàm cao hơn là Thượng tướng Đàm Quang Trung. Thượng tướng Đàm Quang Trung tên thật là Đàm Ngọc Lưu, sinh ngày 12/9/1921, kém Lê Quảng Ba 6 tuổi. Ông tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi (1937). Năm 1939 được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1944 là Trung đội trưởng đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, năm 1945 về Tân Trào được Bác Hồ cử làm đại đội trưởng đại đội Việt - Mỹ, tiến về giải phóng Thái Nguyên, Hà Nội...  Cuối năm 1945 tham gia bội đội Nam Tiến, làm chỉ huy trưởng Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1955 là Tư lệnh trưởng đại đoàn 312.  Năm 1961 là tư lệnh quân khu Việt Bắc, năm 1966 là tư lệnh quân khu Bốn, năm 1984 được phong hàm Thượng tướng, được bầu vào ban bí thư trung ương Đảng. Năm 1987 là Phó Chủ tịch hội đồng Nhà nước (phó Chủ tịch Nước). Ngày nay, tên của Thượng tướng Đàm Quang Trung được đặt làm tên  một đường phố tại trung tâm thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

 

BA ANH EM NHÀ HỌ ĐÀM

 

Thượng tướng Đàm Quang Trung là người con trai út trong nhà họ Đàm có 7 anh chị em. Người anh cả là Đàm Văn Lý (Bí danh là Quý Quân), sinh năm 1915 (Cùng tuổi với Đàm Văn Mông - Lê Quảng Ba). Đàm Văn Lý cũng tham  gia hoạt động cách mạng rất sớm, vào Đảng năm 1932 - Năm 1936 là Châu uỷ viên châu Hà Quảng. Năm 1939, bị bắt, bị đày lên nhà tù Sơn La. Năm 1940, lãnh đạo tổ chức vượt ngục bị bắt lại, bọn cai ngục đã sát hại đồng chí, chặt đầu bêu trước cổng nhà tù Sơn La. Hiện nay, tại di tích lịch sử này có tấm biển lớn ghi lại sự kiện này. Ở huyện Hà Quảng hiện nay có một xã được đặt tên là xã Quý Quân - lấy theo bí danh của liệt sĩ Đàm Văn Lý, người đảng viên trung kiên, bất khuất.

 

Vậy còn người con trai giữa, em trai Đàm Văn Lý, anh trai Đàm Ngọc Lưu (Quang Trung) là ai? lịch sử Hà Quảng, lịch sử Cao Bằng ghi chép quá khiêm tốn. Trong thời gian tôi đi khảo sát, lấy tư liệu ở làng Nà Mạ để viết cuốn KIM ĐỒNG, nhiều người cho biết, người tổ chức ra đội nhi đồng cứu quốc làng Nà Mạ do Kim Đồng (Nông Văn Dèn) làm đội trưởng là anh Đức Thanh, anh trai của Đàm Quang Trung, một người rất tài giỏi (đánh giá của những người cung cấp thông tin), sắc sảo hơn cả Quang Trung! (sự so sánh vô tư, vô cùng!). Tôi có đưa nhân vật Đức Thanh vào trong cuốn KIM ĐỒNG, nhưng biết rất ít về anh. Tháng 5/2011, tôi xuống nhà xuất bản Kim Đồng trao đổi về việc in cuốn Kim Đồng, tôi đưa ra nhận xét riêng của mình "Không có Đức Thanh, chưa thể có hoặc không có đội nhi đồng cứu quốc Nà mạ ngày 15/5/1941". Giám đốc Phạm Quang Vinh tỏ ý tán đồng và đề nghị: "Vậy thì anh viết một cuốn về anh Đức Thanh đi!". Máu bốc đồng trỗi lên, tôi bắt tay giám đốc Phạm Quang Vinh: "Đồng ý". Khi buông tay, tôi giật mình: Có biết gì về Đức Thanh ngoài mẩu thông tin ngắn như trên mà dám viết cả một cuốn sách thì thật là liều! Nhưng đã bắt tay rồi thì phải làm thôi! Tôi bèn sục sạo tìm tài liệu thì được biết thêm, Đức Thanh có tên họ đầy đủ là Đàm Minh Viễn. Năm 1942 được Bác hồ cử phụ trách mở đường Đông tiến (từ Cao Bằng đánh thông đường xuống Lạng Sơn, Hà Nội) Đức Thanh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lãnh đạo cướp chính quyền ở Lạng Sơn, làm Bí thư tỉnh Lạng Sơn rồi được Bác Hồ gọi về Hà Nội giao chỉ huy một trung đoàn, mang chỉ thị kháng chiến kiến quốc của trung ương Đảng vào Sài Gòn - chợ lớn. Vào đến Sài Gòn Đức Thanh tham gia cuộc họp của xứ uỷ Nam Kỳ bàn thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng. Uỷ ban kháng chiến Nam bộ mới được thành lập do đồng chí Cao Hồng Lãnh làm chủ tịch, đồng chí Đàm Minh Viễn làm chủ nhiệm tham mưu (Hoàng Quảng Uyên nhấn mạnh), đồng chí Trần Đức Danh chủ nhiệm chính trị, đồng chí Tôn Đức Thắng: chủ nhiệm hậu cần. Với cương vị chỉ huy quân sự, Đàm Minh Viễn đã chỉ huy đánh thắng nhiều trận... rồi anh dũng hy sinh. Tôi nghĩ, với một vị trí lãnh đạo cao, có nhiều chiến công như thế chắc chắn lịch sử sẽ có nhiều đoạn ghi chép hay về những chiến công và cả sự hy sinh của Đàm Minh Viễn, tôi quyết định "Nam tiến" với sự trợ giúp của nhà xuất bản Kim Đồng. Nhà văn Cao Xuân Sơn, trưởng chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi, dù vậy tôi vẫn không thể "kiếm thêm" được tư liệu nào. Xin gặp trưởng ban tuyên giáo thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh không được, cán bộ sử của ban tuyên giáo tặng tôi cuốn Lịch sử Nam bộ kháng chiến (cũ), cũng chỉ có một "mẩu" như tôi đã dẫn ở trên. Thật là một chuyến đi công toi.

 

Về Cao Bằng, tôi quyết định lần từ gốc tức là về bản Nà nghiềng tìm hiểu. Trước chuyến đi chừng nửa tháng, tôi gọi điện nhờ bí thư huyện Hà Quảng giúp đỡ. Bí thư bảo: "bận lắm, nhưng sẽ lưu ý". Để chắc ăn, trước khi đi 2 ngày, tôi lại điện cho bí thư. Bí thư vẫn trả lời cùng một giọng: "bận lắm, sẽ giao việc cho huyện đoàn". Tôi lên huyện đoàn Hà Quảng, thấy các bạn thanh niên đang có một cuộc rượu, tôi dè dặt hỏi bí thư đoàn. Bí thư rời cuộc rượu bắt tay tôi. Tôi vào đề bằng cách nhắc lại lời bí thư huyện uỷ, bí thư đoàn ngơ ngác: "không thấy bí thư nói gì. Bận lắm!". Tôi ngán ngẩm quá, sang ban tuyên giáo rồi phòng Lao động - Thương binh - Xã hội... tất cả đều ngơ ngác nhìn tôi như nhìn một người có vấn đề về đầu óc vì "già rồi, đi khơi lại một việc nhỏ nhặt như thế, lợi lộc gì?". Tôi thật sự khinh hãi về sự họp, sự bận bịu thời nay và cả sự trơ lỳ với lịch sử, với con người của những người gánh trên vai mình nhiều "Trọng trách".

 

Tôi quyết định đi thẳng lên Nà Nghiềng (có cán bộ Phòng Lao động Thương binh - Xã hội đi cùng) tìm đến nhà ông Đàm Ngọc Uyển là người đang thờ cúng liệt sĩ Đàm Văn Lý. Ông Đàm Ngọc Uyển là người con trai thứ 2 của ông Đàm Văn Lý (Người con cả tên là Đàm Văn Thuyết hiện sống ở thành phố Lạng Sơn). Ông Đàm Ngọc Uyển cho biết, ba anh em nhà họ Đàm, 2 người đã nói rõ, còn người anh thứ hai của thượng tướng Đàm Quang Trung tên là Đàm Văn Lân, sinh năm 1919, bí danh hoạt động cách mạng là Đức Thanh, Đàm Minh Viễn, theo anh trai Đàm Văn Lý hoạt động cách mạng rất sớm. Cuối năm 1940 lánh sang Trịnh Tây, cùng Lê Quảng Ba về dự lớp huấn luyện ở Nặm Quang (một trong 40 con đại bàng cách mạng). Về nước, Đàm Minh Viễn lên Pác Bó, được Bác giao cho phụ trách thanh niên cứu quốc và nhi đồng cứu quốc. Ngày 20/4/1941 Đàm Minh Viễn thành lập chi đoàn thanh niên cứu quốc cứu quốc đầu tiên tại làng Nà Mạ. Ngày 15/5/1941 thành lập đội Nhi đồng cứu quốc, cử Kim Đồng làm đội trưởng. Ngày 22/12/1941 được bầu làm bí thư đoàn thanh niên cứu quốc tỉnh Cao Bằng. Tham gia đội du kích Pác bó do Lê Quảng Ba làm đội trưởng.

 

Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Đàm Minh Viễn đã lãnh đạo, tổ chức thành công mở đường Đông tiến, giành chính quyền tại tỉnh Lạng Sơn. Năm 1945 - 1946 lãnh đạo bộ đội Nam tiến rồi hy sinh ở chiến trường Miền Nam.

Tôi ngước nhìn lên bàn thờ. Hai tấm bằng tổ quốc ghi công của ông Đàm Văn Lý và ông Đàm Văn Lân treo cạnh nhau, ghi rõ năm cấp là năm 1980. Vậy là tới tận năm 1980 hai ông mới được công nhận là liệt sĩ. Tấm bằng của ông Đàm Văn Lân - Đàm Minh Viễn có ghi: Trung đoàn trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

 

PHỦI BỤI THỜI GIAN

 

Ông Đàm Văn Lân (Đàm Minh Viễn) người con của làng Nà Nghiềng đóng góp lớn cho cách mạng nhưng vì một lý do nào đó mà chưa được ghi nhận công lao một cách xứng đáng. Tôi nói như vậy bởi vì Đàm Minh Viễn - Đức Thanh cũng có thể xếp vào hàng những người học trò xuất sắc, cộng sự gần gũi, tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho đất nước với những hoạt động sôi nổi, cống hiến quan trọng: năm 22 tuổi tổ chức chi đoàn thanh niên cứu quốc đầu tiên, tổ chức đội nhi đồng cứu quốc đầu tiên; 23 tuổi là bí thư tỉnh đoàn thanh niên cứu quốc; 24, 25 tuổi tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng và cướp chính quyền ở tỉnh Lạng Sơn; 26, 27 tuổi là Trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng, phụ trách quân sự trong uỷ ban kháng chiến Nam bộ... nếu không hy sinh sớm, có nhiều khả năng sau này ông sẽ được phong tướng. Lịch sử không có NẾU, nhưng tôi vẫn muốn nói ra điều này và trong suy tưởng của tôi Đàm Minh Viễn - Đức Thanh là một vị tướng trẻ trung, nhiệt huyết, oai phong lẫm liệt trong khói lửa đấu tranh cách mạng.

 

Làng Nà Nghiềng còn có một người nữa mà tôi muốn được nhắc tên là liệt sĩ Xuân Trường (tên thật là Hoàng Văn Nhủng) một trong 34 chiến sĩ trong đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đã hy sinh anh dũng trong trận đánh chiếm đồn Đồng Mu (huyện Bảo Lạc) được ghi nhận là liệt sĩ đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam. Hiện nay xã Đồng Mu được gọi là xã Xuân Trường; ở trung tâm thị xã Cao Bằng có một đường phố mang tên Xuân Trường... và còn bao người nữa chưa nhắc tên, bao nhiêu sự kiện ly kỳ chưa được khám phá và kể lại... tôi sẽ còn trở lại Nà Nghiềng nhiều lần nữa góp phần phủi bụi thời gian ghi thêm nhiều câu chuyện về ngôi làng kiên trung, bất khuất này, tôi sẽ vào thành phố Hồ Chí  Minh, lên Tây Nguyên, Nam Trung Bộ để tìm hiểu ghi chép lại những câu chuyện, những chiến công của vị tướng không phong hàm Đàm Minh Viễn - Đức Thanh. Nếu may mắn, tôi tìm được nơi ông hy sinh và cả phần mộ của ông để tổ chức đưa về bản Nà Nghiềng thì hay và quý biết bao. Ông Đàm Ngọc Uyển có một điều ước "nho nhỏ" là muốn dựng lại một ngôi nhà nhỏ trên chính nền nhà nơi ba anh em họ Đàm sinh ra để làm nơi thờ cúng cho ông Đàm Minh Viễn vì ông không có vợ, con. Tôi hỏi: "Cần độ bao nhiêu tiền?" ông Uyển trả lời: "Khoảng một trăm triệu đồng". Tôi bảo: "Được" và hứa với ông tôi sẽ đi xin tài trợ. Tôi sẽ xin phép tỉnh Cao Bằng cho phép chi hội nhà văn Việt Nam tỉnh Cao Bằng, nơi tôi đang sinh hoạt đứng ra thực hiện việc xin tài trợ các đơn vị, cá nhân trong và ngoài tỉnh để xây lại ngôi nhà của 3 anh em họ Đàm ở bản Nà Nghiềng. Tấm lòng tri ân, nặng nghĩa với cách mạng, với đất nước rất mong được đền đáp./.
 
Hoàng Quảng Uyên
 
 
 
 
Nguồn: www.caobang.gov.vn

Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Thu Lợi @ 20:16 22/09/2012
Số lượt xem: 215
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

CHÚC THẦY CÔ MỘT NGÀY MỚI VUI VẺ